Gần nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh, phát huy truyền thống lịch sử cách mạng vẻ vang, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, với tinh thần đoàn kết, năng động, sáng tạo, Đảng bộ, quân và Nhân dân huyện Đăk Tô nói riêng và tỉnh Kon Tum nói chung đã từng bước vượt qua khó khăn, xây dựng quê hương Kon Tum phát triển trên các lĩnh vực.

td

Tượng đài Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh tại trung tâm huyện Đăk Tô

Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng của khu vực. Trong đó, Kon Tum là địa đầu phía bắc Tây Nguyên, án ngữ ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia; nối liền tuyến hành lang Bắc – Nam và tuyến hành lang giữa Đông và Tây Trường Sơn.

Với vị trí địa chính trị quan trọng này, đế quốc Mỹ và Ngụy quyền Sài Gòn đã tập trung mọi lực lượng để xây dựng vùng Bắc Kon Tum trở thành một khu vực phòng thủ kiên cố nhất ở phía Bắc Tây Nguyên mà trung tâm là cụm phòng ngự Đăk Tô – Tân Cảnh.
Từ năm 1957 đến năm 1972, Mỹ-Nguỵ đã cho xây dựng tại Đăk Tô – Tân Cảnh một hệ thống phòng ngự kiên cố nhất bao gồm căn cứ E42 ở Tân Cảnh và căn cứ Đăk Tô 2. Nơi đây là đại bản doanh của Sư đoàn 22 và các Trung đoàn 42 bộ binh, Trung đoàn 14 Thiết giáp, Lực lượng Biệt động quân Biên phòng và 5 tiểu đoàn pháo binh…. Ở bờ Tây sông Pô Kô, cách căn cứ Đăk Tô – Tân Cảnh 10 km về phía Tây Nam là các căn cứ hỏa lực như Căn cứ Charlie (Sạc ly), căn cứ Dalta (Đen Ta)… và dọc theo biên giới Việt Nam – Lào là các tiền đồn biên phòng do tiểu đoàn Biệt động quân 62 (cứ điểm Plei Kleng), Tiểu đoàn 95 (Ben Hét hay còn gọi là Cứ điểm Plei Kần), Tiểu đoàn 88 (Chi khu quận lỵ Đăk Pek) trấn giữ; đi về phía Đông nam có Bộ chỉ huy Lữ đoàn dù số 3, Căn cứ Non Nước (Võ Định)… Nơi đây trở thành cụm cứ liên hoàn khép kín trong thế phòng thủ và tấn công của địch ở Bắc Tây Nguyên với lực lượng đông đảo, bố phòng dày đặc và vũ khí tối tân bấy giờ.
Vì vậy, Đăk Tô – Tân Cảnh trở thành địa bàn diễn ra nhiều trận chiến quyết liệt giữa ta và địch. Trong đó, nhiều chiến dịch lớn được thực hiện tại đây như: Chiến dịch Đăk Tô I vào năm 1967, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã tiêu diệt bộ phận Sư đoàn bộ binh 4, Sư đoàn kị binh không vận số 01 và Lữ đoàn dù 173 của Mỹ tại điểm cao 875 đã góp phần cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, Chiến dịch Đăk Tô II vào năm 1969 ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch góp phần đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ và kế hoạch “tìm diệt” của Mỹ trên chiến trường Tây Nguyên và đặc biệt là chiến dịch Xuân hè năm 1972 ở Bắc Tây Nguyên mà trọng điểm là giải phóng Đăk Tô – Tân Cảnh.
Thực hiện chủ trương chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, khu ủy V và Tỉnh uỷ Kon Tum đã quyết định mở chiến dịch Xuân – Hè 1972 nhằm “Tiêu diệt địch, giải phóng Đăk Tô – Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum. Hướng phát triển có thể là hướng Plei Ku; có điều kiện thì mở rộng vùng giải phóng phía tây Plei Ku, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ”.
Chiến dịch Xuân – Hè năm 1972 diễn ra 68 ngày đêm. Quân giải phóng của ta gồm có Sư đoàn 320, Trung đoàn 95, 28, 24, 66… lần lượt tấn công và đập tan các tuyến phòng thủ của địch ở Chư Pao, Chư Thoi, Võ Định  và dãy điểm cao ở bờ Tây Sông Pô Kô.
Sau khi các cứ điểm ở bờ Tây sông Pô Kô bị tiêu diệt. Đúng 4 giờ 30 phút ngày 24/4/1972, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 Phùng Bá Thường ra lệnh tiến công vào cứ điểm E42-Tân Cảnh. Sau 8 tiếng tấn công quyết liệt và thần tốc, 11 giờ trưa ngày 24/4/1972 ta làm chủ hoàn toàn trận địa, lá cờ giải phóng do đồng chí Phan Quyết – Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum trao cho Trung đoàn 66 trước khi xuất trận tung bay tại trung tâm cứ điểm E42 -Tân Cảnh. Cụm phòng ngự Đăk Tô – Tân Cảnh, nơi được Mỹ – Ngụy mệnh danh là “vành đai thép” ở Bắc Tây Nguyên bị quân ta tiêu diệt gọn.
Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh được coi là một trận đánh tiêu biểu trong “chiến thuật đánh nhanh, diệt gọn”. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, quân ta đã tiêu diệt một lực lượng lớn sinh lực địch… Chiến thắng này đã phá tung một mảng quan trọng trên tuyến phòng thủ cơ bản của Mỹ – Nguỵ ở Kon Tum, làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng thủ của Mỹ -Nguỵ ở Tây Nguyên, làm cho thế trận của chúng ở phía Bắc bị rối loạn, ở phía Nam bị uy hiếp từ nhiều phía, trận địa phòng ngự của địch bị suy yếu hẳn.
Với chiến dịch Xuân Hè năm 1972 ở Bắc Tây Nguyên,ta đã giải phóng trên bốn vạn dân ở các huyện 67, H30, H80, H40, H16… và mở rộng vùng giải phóng, tạo thành một căn cứ địa liên hoàn của ba nước Đông Dương từ Hạ Lào – Đông bắc Campuchia nối liền với Kon Tum và căn cứ Khu uỷ V. Từ đó, Bộ đội Trường Sơn (đường 559) đã chuyển hướng vận tải từ Tây Trường Sơn sang Đông Trường Sơn, rút ngắn được nhiều cung đường vận chuyển nhân tài vật lực, hàng hoá, vũ khí, đạn dược vào chiến trường miền Nam cả ngày lẫn đêm, đáp ứng kịp thời cho nhiều chiến dịch sau này.
Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh cùng với chiến thắng Quảng Trị và miền Đông Nam Bộ là những đòn tiêu diệt chiến dịch có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng, nó đã tạo ra một cục diện mới trên chiến trường miền Nam, góp phần đánh bại một bước quan trọng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Học thuyết Nich Xơn” ở Đông Dương, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, rút quân khỏi Việt Nam.
Thắng lợi chiến dịch Xuân Hè năm 1972 mà đỉnh cao là chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh; là thắng lợi của đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng; sự chỉ huy sáng suốt của các cấp ủy Đảng và của Bộ Tư lệnh chiến dịch; tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm, tinh thần đoàn kết nhất trí, hiệp đồng tác chiến, hiệp đồng giữa các binh chủng, giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích”.
Với quyết tâm “Trường Sơn chuyển mình – Pô Kô dậy sóng, quét sạch quân thù, giải phóng Đăk Tô”, “Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã huy động tối đa sức người, sức của cho chiến dịch này. Những “rẫy mì cách mạng”, “rẫy mì giải phóng”, “tiếng chày giã gạo” thâu đêm…. cung cấp lương thực cho tiền tuyến hay hình ảnh người mẹ “Tay cầm khẩu súng, phía trước địu con, sau lưng cõng đạn ” của Nhân dân các dân tộc Kon Tum mãi mãi trở thành biểu tượng cao đẹp cho ý chí tất cả vì các mạng, vì độc lập dân tộc và khát vọng hòa bình.
td2
Di tích lịch sử Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh
Trong những năm qua được sự quan tâm, tạo điều kiện của Trung ương và các bộ ngành, di tích Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh đã từng bước được bảo tồn, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích bằng các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước. Địa điểm Chiến thắng Đăk Tô Tân Cảnh trở thành địa chỉ về nguồn cho các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là Nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh Kon Tum, nhằm tuyên truyền giáo dục cho các thế hệ con cháu về những chiến công vang dội của quân và dân Tây Nguyên cũng như tri ân những tấm gương hy sinh anh dũng của biết bao chiến sĩ cách mạng. Đây trở thành điểm đến ý nghĩa của du khách trong nước và quốc tế muốn khám phá và tìm hiểu về chiến trường xưa.
Với ý nghĩa lịch sử sâu sắc trong quá khứ cũng như hiện tại và tương lai, “Địa điểm Chiến thắng Đăk Tô – Tân Cảnh được Thủ Tướng Chính phủ Công nhận là Di tích cấp quốc gia đặc biệt. Đây là niềm vinh dự, tự hào của Đảng bộ, chính quyền Quân và Nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phát huy truyền thống cách mạng bất khuất, tinh thần đoàn kết một lòng, quyết tâm xây dựng tỉnh Kon Tum ổn định và phát triển bền  vững./.
Bài, ảnh: Dương Nương
Nguồn:http://www.kontum.gov.vn-HT